10/08/2024
3,981 lượt đọc
Chứng khoán phái sinh là công cụ dưới dạng hợp đồng, có giá trị phụ thuộc vào giá trị của tài sản cơ sở (hàng hóa, công cụ tài chính). Giá giao dịch sẽ được xác định ở thời điểm hiện tại, tuy nhiên thời điểm thực hiện sẽ ở một ngày cụ thể trong tương lai. Gồm 4 loại:


Hợp đồng tương lai (HĐTL) là thỏa thuận giữa bên mua và bên bán về một giao dịch diễn ra trong tương lai với mức giá được xác định trước.
Ví dụ:
Ngày 01/05, một công ty sản xuất dầu thực vật thỏa thuận sẽ mua 1.000 tấn đậu tương từ một nhà cung cấp với giá 500.000đ/kg vào ngày 01/10.
Khi đến ngày 01/10, công ty thực hiện mua 1.000 tấn đậu tương với giá đã thỏa thuận trước là 500.000đ/kg, dù tại thời điểm đó giá đậu tương trên thị trường có thể đã giảm xuống còn 480.000đ/kg. Nhờ vào hợp đồng tương lai, công ty đã tránh được rủi ro giá đậu tương giảm, đảm bảo nguồn cung ổn định cho sản xuất.
Hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 là loại Hợp đồng tương lai có tài sản cơ sở là chỉ số VN30, mô phỏng kỳ vọng giá của chỉ số VN30 tại thời điểm đáo hạn
Mỗi mã HĐTL chỉ số VN30 sẽ có 9 ký tự, trong đó
Tại một thời điểm luôn có 4 hợp đồng tương lai chỉ số VN30 được giao dịch:
Ưu điểm:
Thông tin Hợp đồng tương lai chỉ số VN30
| Mã hợp đồng | VN30FYYMM |
| Tài sản cơ sở | Chỉ số VN30 |
| Hệ số nhân hợp đồng | 100,000 đồng |
| Tháng đáo hạn | Tháng gần nhất, tháng kế tiếp, tháng cuối quý gần nhất, tháng cuối quý tiếp theo |
| Bước giá | 0.1 điểm chỉ số (tương đương 10,000 đồng) |
| Ngày giao dịch cuối cùng | Ngày thứ năm là ngày giao dịch đầy đủ trước ngày đáo hạn |
| Giá thanh toán hàng ngày | Theo quy định của VSD |
| Giá thanh toán cuối cùng | Giá trị trung bình sổ giao dịch cuối cùng sớm 30 phút cuối cùng của ngày giao dịch cuối cùng (bao gồm 15 phút khớp lệnh liên tục và 15 phút khớp lệnh định kỳ do đóng cửa), sau khi loại trừ 3 giá lệch đến cao nhất và 3 giá lệch đến thấp nhất của chuỗi khớp lệnh liên tục. |
| Ngày thanh toán cuối cùng | Ngày làm việc liên sau ngày giao dịch cuối cùng |
| Phương thức thanh toán | Thanh toán bằng tiền Thanh toán lãi lỗ vị thế: Ngày làm việc tiếp theo, ghi tăng/ giảm tiền trên tài khoản khách hàng tương ứng với các khoản lãi/ lỗ vị thế. Thanh toán khi đáo hạn: Ngày làm việc liền sau ngày giao dịch cuối cùng, ghi tăng/ giảm tiền trên tài khoản khách hàng tương ứng với giá trị lãi/ lỗ khi thực hiện tất toán hợp đồng. |
Cách thức hoạt động: Để đóng vị thế này, nhà đầu tư cần bán hợp đồng đi hoặc giữ cho đến ngày đáo hạn của hợp đồng.
Cách thức hoạt động: Nhà đầu tư bắt đầu với việc bán mượn tài sản (trong giao dịch chứng khoán) hoặc bán một hợp đồng chưa sở hữu (trong giao dịch phái sinh). Để đóng vị thế này, họ cần mua lại hợp đồng hoặc tài sản tương ứng để trả lại, thường là với giá thấp hơn, và thu lợi từ sự chênh lệch.
Thanh toán lãi/ lỗ hàng ngày:
Nguyên tắc xác định lãi/lỗ vị thế: : Xác định trên cơ sở chênh lệch giá thanh toán cuối ngày (DSP) so với giá bình quân gia quyền theo số lượng (VWAP) của mỗi loại vị thế, tính riêng theo mã hợp đồng.
Công thức xác định lãi/lỗ với vị thế mở trong ngày:
Lãi/lỗ vị thế mở = (Giá thanh toán cuối ngày – Giá giao dịch) * Hệ số nhân * Số lượng hợp đồng
Công thức xác định lãi/lỗ với vị thế có sẵn (nắm giữ qua đêm):
Lãi/lỗ vị thế đã có = (Giá thanh toán cuối ngày – Giá thanh toán cuối ngày liền trước) * Hệ số nhân * Số lượng hợp đồng
Ví dụ: Đầu ngày T+0, LONG 03@1120 VN30Fxxx. Cuối ngày T+0, giá đóng cửa là 1125
Lãi ngày T+0 = (1125 – 1120) * 100,000 * 3 = 1,500,000 VNĐ
=> Lãi được thanh toán vào Tài khoản tại T+1
Cuối ngày T+1, giá đóng cửa HĐTL chỉ số VN30 là 1115
Lỗ ngày T+1 = (1115 – 1125)* 100,000 * 3 = -3,000,000 VNĐ
=> Nhà đầu tư phải thanh toán lỗ trong thời hạn theo quy định
Ký quỹ trong giao dịch Chứng khoán phái sinh đóng vai trò như một khoản đặt cọc để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của hai bên khi tham gia hợp đồng
Tỉ lệ ký quỹ ban đầu do trung tâm lưu ký (VSD) quy định sẽ nêu rõ nhà đầu tư phải ký quỹ bao nhiêu phần trăm giá trị hợp đồng trước khi tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh
Ví dụ: Ngày 10/08/2024, một nhà đầu tư quyết định mua 5 hợp đồng tương lai chỉ số VN30 (VN30F2408) với giá 1130, kỳ vọng chỉ số này sẽ tăng.
Tỉ lệ ký quỹ ban đầu do VSD quy định là 17%
Đơn giá giao dịch HĐTL chỉ số VN30 là 1130
Giá trị tiền nhà đầu tư cần ký quỹ để giao dịch 5 HĐTL chỉ số VN30:
Giá trị ký quỹ ban đầu (IM) = Tỉ lệ ký quỹ ban đầu x Đơn giá giao dịch x Số lượng HĐTL x Hệ số nhân
= 17% x 1130 x 5 x 100,000
= 96,050,000 VNĐ
Giá trị ký quỹ yêu cầu (MR) = IM + VM + DM
Trong đó:
Được xác định bằng chênh lệch giữa:
(1) Giá giao dịch được cập nhật trong phiên giao dịch với
(2) Giá thanh toán cuối ngày
| Trường hợp | Giá (1) | Giá (2) |
| Mở mới vị thế trong ngày | Giá khớp lệnh gần nhất | Giá thanh toán mở vị thế |
| Vị thế hiện có trên TK | Giá khớp lệnh gần nhất | DSP ngày liền trước |
| Đóng vị thế trong ngày (với vị thế đã có trên TK) | Giá thanh toán đóng vị thế | DSP ngày liền trước |
| Mở, đóng vị thế trong ngày | Giá thanh toán đóng vị thế | Giá thanh toán mở vị thế |
Tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ (VTKKQ) = Giá trị ký quỹ yêu cầu/Giá trị tài sản ký quỹ hợp lệ
Tỷ lệ sử dụng tài khoản ký quỹ (VTKPS) = Giá trị ký quỹ yêu cầu/Giá trị tài sản hợp lệ tại CTCK
Nhà đầu tư nên chú ý kiểm tra các tỷ lệ tài khoản để tránh tài khoản rơi vào mức xử lý.
Tài khoản của Nhà đầu tư sẽ được quản lý theo các mức dưới đây:

Ví dụ:
Ngày giao dịch: 02/08/2024
Loại giao dịch: Mua (Long) 15 hợp đồng VN30F2408
Giá mở vị thế: 1150
Kỳ vọng: Tăng điểm của chỉ số VN30
ài sản ký quỹ của nhà đầu tư (VTKKQ): 300,000,000 VND
Hệ số nhân hợp đồng: 100,000
Tỷ lệ ký quỹ theo quy định VSD: 15%
Tính toán ký quỹ ban đầu (Initial Margin - IM):
IM = Giá hợp đồng x Hệ số nhân x Số hợp đồng x Tỷ lệ ký quỹ
IM = 1150 x 100,000 x 15 x 15% = 258,750,000 VND
Tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ (Utilization Ratio - AR):
AR = IM / VTKKQ = 258,750,000 / 300,000,000 = 86.25%
Kịch bản thay đổi giá và ảnh hưởng:
Giả sử giá VN30F2408 tăng lên 1165.
Lợi nhuận từ giao dịch:
Lãi = (Giá hiện tại - Giá mở vị thế) x Hệ số nhân x Số hợp đồng
Lãi = (1165 - 1150) x 100,000 x 15 = 2,250,000 VND
Tính toán ký quỹ duy trì (Maintenance Margin - MR):
IM mới = Giá mới x Hệ số nhân x Số hợp đồng x Tỷ lệ ký quỹ
IM mới = 1165 x 100,000 x 15 x 15% = 262,875,000 VND
MR = IM mới + VM (Value at Maturity)
Vì lãi, VM = 0.
MR = 262,875,000 VND
Tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ cập nhật:
AR mới = MR / VTKKQ = 262,875,000 / 300,000,000 = 87.63%
📌 HÃY XÂY DỰNG VÀ KIỂM THỬ CHIẾN LƯỢC GIAO DỊCH CỦA BẠN TRÊN NỀN TẢNG QMTRADE TRƯỚC KHI SỬ DỤNG TIỀN THẬT ĐỂ TRÁNH NHỮNG RỦI RO KHÔNG ĐÁNG CÓ.
TRẢI NGHIỆM TÍNH NĂNG TẠI: QMTRADE

0 / 5
Trong giao dịch, rất nhiều người dành phần lớn thời gian để học cách đọc biểu đồ, học mô hình nến, học RSI, MACD, Bollinger Bands hay Fibonacci. Những thứ đó đều hữu ích. Nhưng sau một thời gian đủ dài, gần như ai cũng sẽ gặp cùng một vấn đề: biết tín hiệu nhưng vẫn vào sai lệnh, thấy mô hình đúng mà kết quả vẫn không như kỳ vọng. Lý do nằm ở chỗ thị trường không vận hành chỉ bằng kỹ thuật. Thị trường vận hành bằng kỳ vọng, định vị dòng tiền và cảm xúc tập thể. Nói cách khác, nếu chỉ đọc chart mà không đọc được tâm lý thị trường, chúng ta mới chỉ nhìn thấy “hình dạng” của giá, chứ chưa hiểu “động cơ” khiến giá vận động.
Jesse Livermore là một trong những cái tên kinh điển nhất trong lịch sử trading. Điều khiến ông trở thành huyền thoại không chỉ nằm ở những thương vụ lớn, mà nằm ở cách ông quan sát thị trường và đúc kết ra các nguyên tắc giao dịch vượt thời gian. Dù thị trường ngày nay đã có thuật toán, dữ liệu lớn, phái sinh, margin, HFT và rất nhiều công cụ hiện đại, những bài học của Livermore vẫn còn nguyên giá trị, bởi bản chất sâu nhất của thị trường chưa từng thay đổi: con người vẫn bị chi phối bởi tham lam, sợ hãi, hy vọng và cái tôi.
Đọc bài review của Steve Burns về cuốn The Man Who Solved the Market: Jim Simons, QM Capital thấy đây không chỉ là câu chuyện về một cá nhân xuất chúng, mà là một cách nhìn rất khác về thị trường tài chính. Jim Simons không bước vào thị trường với tư duy “hôm nay mua mã nào” hay “ngày mai thị trường tăng hay giảm”. Ông bước vào thị trường với niềm tin rằng: trong giá cả có những mẫu hình lặp lại, và nếu có đủ dữ liệu, đủ năng lực toán học, đủ công nghệ và đủ kỷ luật, con người có thể tìm ra lợi thế từ những mẫu hình đó.
Ở Phần 1, chúng ta đã nói về cách hình thành các mô hình giá phổ biến. Sang Phần 2, trọng tâm không còn là “mô hình đó trông như thế nào”, mà là mô hình nào có thể tạo tín hiệu tăng, mô hình nào cảnh báo tín hiệu giảm, và quan trọng hơn là trader nên đọc chúng ra sao trong thực chiến.
Trong phân tích kỹ thuật, mô hình giá không chỉ là những đường kẻ trên biểu đồ. Mỗi mô hình thực chất là một “bản ghi” về tâm lý thị trường: bên mua đang mạnh lên hay yếu đi, bên bán đang phân phối hay mất kiểm soát, dòng tiền đang tích lũy hay rút ra. Khi nhìn một mô hình, điều quan trọng không phải là cố tìm cho giống hình mẫu trong sách, mà là hiểu được câu chuyện cung – cầu đang diễn ra phía sau.
Trong giao dịch tài chính, đặc biệt là ở thị trường chứng khoán Việt Nam và phái sinh VN30, phần lớn trader thường bắt đầu bằng việc tìm kiếm tín hiệu vào lệnh. Họ học các mô hình giá, đường trung bình, RSI, MACD, Bollinger Bands, volume, nến Nhật và rất nhiều chỉ báo khác. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở việc thiếu tín hiệu. Vấn đề lớn hơn là trader không biết tín hiệu nào đáng tin, vào lệnh ở đâu, sai thì thoát ở đâu, và khi nào nên kiên nhẫn chờ giá điều chỉnh thay vì mua đuổi.
Được nghiên cứu và phát triển bởi các chuyên gia từ QMTrade và cộng đồng nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Truy cập ngay!